Công tác đất

Máy tính khối lượng đào đắp (diện tích mặt cắt trung bình)

Khối lượng đào đắp cho đường cao tốc và san nền thường được tính bằng cách lấy trung bình diện tích đào hoặc đắp của hai mặt cắt liền kề rồi nhân với khoảng cách giữa chúng. Chạy tính cho từng cặp trạm rồi cộng các kết quả lại.

Thể tích  ft³
Thể tích  yd³

Công thức

Diện tích mặt cắt trung bình: V (ft³) = L × (A1 + A2) ÷ 2, trong đó A1 và A2 là diện tích đào (hoặc đắp) tại hai mặt cắt tính bằng ft², còn L là khoảng cách tính bằng ft. Chia cho 27 để ra yard khối. Khối lượng đào và đắp được tính riêng.

Ví dụ minh họa

Diện tích đào 120 ft² và 180 ft² tại hai trạm cách nhau 100 ft: V = 100 × (120 + 180) ÷ 2 = 15,000 ft³ = 555.56 yd³.

Giả định và giới hạn

  • Chính xác khi các diện tích mặt cắt tương tự nhau; đánh giá cao thể tích khi một đầu có diện tích nhỏ hơn nhiều (công thức lăng thể chính xác hơn).
  • Diện tích là số đo tại chỗ (bank). Áp dụng hệ số nở và co ngót riêng.

Câu hỏi thường gặp

Sự khác nhau giữa phương pháp diện tích mặt cắt trung bình và thể tích prismoidal là gì?

Công thức lăng trụ thêm diện tích tiết diện giữa và chính xác hơn cho các hình thuôn dần. Phương pháp diện tích đầu trung bình đơn giản hơn và là tiêu chuẩn trên nhiều dự án đường cao tốc.

Các mặt cắt ngang nên cách nhau bao xa?

Công việc đường cao tốc thường dùng các trạm 50 ft hoặc 100 ft, với các đoạn bổ sung tại các điểm đổi độ dốc hoặc nơi địa hình thay đổi đột ngột.

Làm sao tính đến việc đầm nén?

Thể tích đất đắp là thể tích đã đầm nén; thể tích đào là thể tích nguyên thổ (bank). Hãy dùng máy tính hệ số nở và co để quy đổi giữa yard khối nguyên thổ (bank), tơi (loose) và đã đầm nén (compacted).

Nguồn