Công tác đất

Máy tính nở rời và co ngót đất đào đắp

Đất chiếm thể tích lớn hơn khi được đào lên (nở rời) và nhỏ hơn khi được đầm nén (co ngót) so với khi còn nằm trong lòng đất. Dùng công cụ này để chuyển khối lượng đất tại chỗ thành khối lượng đất chuyên chở và đất đắp.

Thể tích rời  yd³
Thể tích đã đầm nén  yd³
Khối lượng nguyên thổ cần để đắp  yd³
Thể tích rời của đất cần chuyên chở để đắp  yd³

Công thức

Thể tích rời = thể tích tại chỗ × (1 + hệ số nở). Thể tích đầm nén = thể tích tại chỗ × (1 - hệ số co). Thể tích đất tại chỗ cần cho một lớp đắp đã đầm = thể tích đắp ÷ (1 - hệ số co), và thể tích đất rời cần chuyên chở = thể tích tại chỗ đó × (1 + hệ số nở).

Ví dụ minh họa

1,000 yd³ đất tại chỗ loại đất thường có hệ số nở 25% và co ngót 10%: đất rời = 1,250 yd³, đất đã đầm nén = 900 yd³. Để đắp 500 yd³ đất đã đầm nén, cần 500 ÷ 0.90 = 555.6 yd³ đất tại chỗ, chuyên chở thành 694.4 yd³ đất rời.

Giả định và giới hạn

  • Các hệ số phụ thuộc vào loại đất, độ ẩm và mức độ đầm nén; hãy dùng dữ liệu địa kỹ thuật của dự án khi có.
  • Đá có thể có độ co ngót âm (nở ra ngay cả khi đã đầm nén).

Câu hỏi thường gặp

Sự khác nhau giữa yard khối nguyên thổ (bank), yard tơi (loose) và yard đã đầm nén (compacted) là gì?

Khối lượng đất nguyên thổ (bank yard) được đo tại chỗ trước khi đào, đất rời (loose yard) đo trong xe tải hoặc bãi chứa, và đất đã đầm nén (compacted yard) đo trong nền đắp đã hoàn thiện.

Các giá trị co ngót điển hình là bao nhiêu?

Đất thường co lại khoảng 10% đến 20% từ đất tại chỗ đến đất đã đầm nén, đất sét co nhiều hơn một chút, còn cát và sỏi co ít hơn.

Tại sao đất đắp của tôi cần nhiều đất hơn hố tôi đã đào?

Vì đất đắp được nén chặt hơn nền tự nhiên, mỗi yard khối đã đầm nén cần hơn một yard khối tại bờ (bank yard).

Nguồn