Nước mưa

Máy tính nước chảy tràn theo số đường cong NRCS

Phương pháp số đường cong của NRCS ước tính phần lượng mưa của một trận bão trở thành nước chảy tràn, dựa trên nhóm đất và lớp phủ mặt đất. Đây là cơ sở của TR-55 và hầu hết thủy văn của ao lưu trữ.

Khả năng giữ nước tối đa tiềm năng S  in
Tổn thất ban đầu Ia = 0.2S  in
Độ sâu nước chảy tràn  in
Thể tích chảy tràn  acre-ft
Thể tích chảy tràn  ft³

Công thức

TR-55: S = 1,000/CN - 10, Ia = 0.2S, và Q = (P - Ia)² ÷ (P - Ia + S) khi P > Ia (tương đương (P - 0.2S)² ÷ (P + 0.8S)), ngược lại Q = 0. Thể tích (acre-ft) = Q (in) ÷ 12 × A (acre).

Ví dụ minh họa

Lượng mưa 4.0 in trên 10 acre với CN = 80: S = 1,000/80 - 10 = 2.50 in, Ia = 0.50 in, Q = (3.5)² ÷ (3.5 + 2.5) = 2.04 in. Thể tích = 2.04 ÷ 12 × 10 = 1.70 acre-ft = 74,113 ft³.

Giả định và giới hạn

  • Ia = 0,2S là giả định tiêu chuẩn của TR-55; một số cơ quan hiện dùng 0,05S với CN đã điều chỉnh.
  • CN phụ thuộc vào nhóm đất thủy văn (A đến D), lớp phủ và độ ẩm tiền kỳ; xem TR-55 Bảng 2-2a đến 2-2d.
  • Phương pháp này kém chính xác hơn đối với lượng mưa dưới khoảng 0.5 in.

Câu hỏi thường gặp

Tôi nên dùng số đường cong nào?

Theo bảng TR-55: ví dụ, không gian mở ở tình trạng tốt là 39, 61, 74 và 80 đối với nhóm đất A, B, C và D, còn bãi đậu xe có mặt đường là 98.

Nhóm đất thủy văn là gì?

NRCS phân loại đất từ A (khả năng thấm cao, đất cát) đến D (khả năng thấm rất thấp, đất sét hoặc nông tới đá). Hãy tra cứu trong Web Soil Survey của NRCS.

Điều này khác với phương pháp hợp lý như thế nào?

Phương pháp số đường cong (curve number) cho ra thể tích dòng chảy và hỗ trợ biểu đồ thủy văn; phương pháp hợp lý chỉ cho lưu lượng đỉnh đối với các lưu vực nhỏ.

Nguồn